Tuesday, 07/07/2020 - 12:37|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Lê Bình

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO "CHẾ TẠO PIN ĐIỆN HÓA ĐƠN GIẢN" LỚP 9A THCS LÊ BÌNH

 

        A. ĐẶT VẤN ĐỀ

        Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông, có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học.

“Trải nghiệm” được hiểu là trải qua, kinh qua. Để học hỏi, con người cần đến sự trải nghiệm, khám phá. Khám phá giúp con người nhận ra được cái đúng, cái sai trong cuộc sống, từ đó rút ra những bài học quý giá để hoàn thiện bản thân.
“Sáng tạo” hay còn gọi là năng lực sáng tạo được sử dụng đồng nghĩa với nhiều thuật ngữ khác như: sự sáng tạo, tư duy hay óc sáng tạo… Các thuật ngữ này điều mang một nghĩa chung là sự sản xuất, tạo ra, sinh ra một cái gì đó mà trước đây chưa hề có, chưa tồn tại.
Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới. Muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất.
          Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau có thể tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ, hành vi. Sự sáng tạo sẽ xuất hiện khi học sinh phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn có vấn đề, phải vận dụng kiến thức, kĩ năng để đưa ra hướng giải quyết.
Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa cao.  Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được, thể hiện qua các chủ đề đa dạng, phong phú vừa đảm bảo yêu cầu chung và vừa phù hợp với đặc điểm của từng trường, từng địa phương.
          Với cách hiểu về HĐTNST như trên, có thể thấy bất kỳ môn học, lĩnh vực nào cũng có thể xây dựng nội dung trải nghiệm. Nội dung trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng, mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập, giáo dục như: đạo đức, trí tuệ, kỹ năng sống, giá trị sống, nghệ thuật, thẩm mỹ, thể chất, an toàn giao thông, môi trường ... Giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề thiết thực, gần gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng hiểu biết vào thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi.

Trong số các môn học ở trường THCS thì Vật Lí là một trong những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến thức cơ bản về thế giới tự nhiên và về môi trường xung quanh. Vì vậy, việc học sinh tự nghiên cứu, trải nghiệm, đưa ra các ý tưởng sáng tạo, chế tạo các sản phẩm... trên cơ sở các kiến thức được học là điều mà mỗi giáo viên đều mong muốn hướng đến.

          Trong chương trình Vật Lí THCS thì phần Điện học, học sinh được học ở chương trình Vật Lí lớp 7, lớp 9. Phần Điện học rất hay, phong phú về nội dung, ứng dụng nhiều trong thực tế. Với thời lượng trên lớp, giáo viên khó có thể  trình bày hết các tinh túy của lĩnh vực này đồng thời còn  hạn chế trong việc cho học sinh thể hiện hết các năng lực, kĩ năng của mình.  Do vậy, để bồi dưỡng thêm năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo, năng lực giao tiếp, kĩ năng thực hành, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng hoạt động nhóm...thì hoạt động trải nghiệm sáng tạo là sự lựa chọn sáng suốt.  Chính vì vậy, tổ Toán-Lí-Tin trường THCS Triệu Long mạnh dạn xây dựng chuyên đề trải ngiệm sáng tạo: “ Chế tạo pin điện hóa đơn giản”dành cho học sinh khối 9.

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

1.1. Vai trò của giáo viên

           Giáo viên chuyển từ “người quản lý”  sang “người thúc đẩy”

           Giáo viên khuyến khích, chấp nhận sự tự điều khiển và sáng kiến của học sinh, tích cực tìm hiểu kiến thức đã có và nhu cầu học tập của học sinh, khuyến khích HS trao đổi, tranh luận với nhau và cả với GV, cũng như thay đổi cách hướng dẫn, thay đổi nội dung khi cần thiết,  khuyến khích HS tìm hiểu các vấn đề trong những tình huống bằng các câu hỏi tư duy, câu hỏi mở.

           Giáo viên đặt học sinh vào những tình huống có thể thách thức những quan niệm trước đó của HS bằng những vấn đề có thể gây ra mâu thuẩn với giả thiết ban đầu và sau đó động viên các em thảo luận với nhau.

           Giáo viên hướng học sinh cách học, cách điều chỉnh các kĩ năng, nuôi dưỡng động cơ đam mê học tập, luôn tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau.

           Và hơn hết, giáo viên phải là người sáng tạo mới truyền cảm hứng sáng tạo cho học sinh của mình.

1.2. Vai trò của học sinh

           Học sinh chủ động và tích cực trong việc  huy động kiến thức, kĩ năng đã có vào khám phá, giải quyết các tình huống mới đồng thời phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn của bản thân.

           Học sinh chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao đổi thông tin với bạn học và giáo viên. Việc trao đổi này xuất phát  từ nhu cầu của chính mình.

           Học sinh tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi lĩnh hội các tri thức mới. Ngoài ra cần có kĩ năng sử dụng các phương tiện học tập thành thạo như biết khai thác thông tin trên Internet, phần mềm... Luôn nổ lực biến các ý tưởng thành các sản phẩm cụ thể.

           Học sinh thực hiện đánh giá người khác và tự đánh giá bản thân qua quá trình trải nghiệm sáng tạo.

2. Thiết kế các HĐTNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
:
Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, nhà giáo dục cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh.
           Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
           Đặt tên cho hoạt động là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động.Tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lý đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
          - Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn.
         - Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động.
          - Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh
       Tên hoạt động đã được gợi ý trong bản kế hoạch HĐTNST, nhưng có thể tùy thuộc vào khả năng và điều kiện cụ thể của từng lớp để lựa chọn tên khác cho hoạt động. Giáo viên cũng có thể lựa chọn các hoạt động khác ngoài hoạt động đã được gợi ý trong kế hoạch của nhà trường, nhưng phải bám sát chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của một chủ đề, tránh xa rời mục tiêu.

           Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động
           Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của mỗi chủ đề theo từng tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. Mục tiêu của hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị. Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là:
- Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động
- Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động
- Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò
Tùy theo chủ đề của HĐTNST ở mỗi tháng, đặc điểm HS và hoàn cảnh riêng của mỗi lớp mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng. Khi xác định được mục tiêu cần phải trả lời các câu hỏi sau:
- Hoạt động này có thể hình thành cho học sinh những kiến thức ở mức độ nào? (Khối lượng và chất lượng đạt được của kiến thức?)
- Những kỹ năng nào có thể được hình thành ở học sinh và các mức độ của nó đạt được sau khi tham gia hoạt động?
- Những thái độ, giá trị nào có thể được hình thành hay thay đổi ở học sinh sau hoạt động?

           Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động. Trước hết, cần căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụ thể của lớp, của nhà trường và khả năng của học sinh để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động. Cần liệt kê đẩy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong dó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ.
           Bước 5: Lập kế hoạch
Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực – vật lực – tài liệu) và thời gian, không gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu.
Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiên mỗi một mục tiêu. Vì đạt được mục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cai nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kỳ người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu. Nó cũng không cho phép tập trung các nguồn lực và điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này mà bỏ mục tiêu khác đã lựa chọn. Cân đối giữa hệ thống mục tiêu với các nguồn lực và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững khả năng mọi mặt, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu.

           Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy
           Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ, nhóm, các cá nhân. Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc.
           Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lý ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng căn bản. Đó là giáo án tổ chức hoạt động.
           Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh.

3. Giới thiệu một số chuyên đề trải nghiệm sáng tạo Vật Lí THCS có thể triên khai

STT

Tên chuyên đề

Lớp

Điều kiện áp dụng

Ghi chú

1

Chưng cất nước

6

HS học xong bài 26-27: Sự bay hơi và ngưng tụ

 

2

Phòng chống tiếng ồn

7

HS học xong bài 13: Môi trường truyền âm

 

3

Chế tạo máy nén thủy lực nhỏ

8

HS học xong bài 8: Áp suất chất lỏng (máy nén thủy lực)

 

4

Chế tạo máy sấy nông sản dùng năng lượng Mặt trời

8

HS học xong bài 23: Đối lưu- bức xạ nhiệt

 

5

Chế tạo đèn kéo quân

8

HS học xong bài 23: Đối lưu- bức xạ nhiệt

 

6

Chế tạo động cơ điện từ nam châm vĩnh cửu, dây đồng

9

HS học xong bài 28: Động cơ điện 1 chiều

 

7

Máy phát điện năng lượng gió

9

HS học xong bài 34: Máy phát điện xoay chiều

 

4. Giáo án minh họa tổ chức các hoạt động trong chủ đề: “Chế tạo pin điện hóa đơn giản”

I. MỤC TIÊU:

1. Kiến thức:

- Học sinh hiểu các kiến thức liên quan đến pin điện hóa: Dòng điện, nguồn điện, nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc cấu tạo...

- Chế tạo được các pin điện hóa đơn giản

- 2. Kỹ năng:

- Tiến hành được các thí nghiệm với pin điện hóa đã chế tạo

- Hình thành và rèn luyện một số kĩ năng: tìm kiếm thông tin, hoạt động nhóm, thuyết trình, hợp tác,...

3. Thái độ:

- Cẩn thận, an toàn, chính xác, khoa học, say mê nghiên cứu, yêu thích môn học.

4. Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo.
- Năng lực xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
- Năng lực công cụ: năng lực thực nghiệm, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.

II. PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC

1.Phương pháp: Dạy học dự án

2.Kỹ thuật dạy học:Sơ đồ tư duy

III.CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS

1.Chuẩn bị của GV:

- Máy tính, máy chiếu, giáo án, giấy A0, A4, bút viết

- Vôn kế, dây dẫn điện

2.Chuẩn bị của HS:

- SGK Vật Lí 7, 9

- Cốc đựng chất lỏng

- Các tấm kim loại mỏng, thanh kim loại

- Dung dịch điện li: nước muối, các loại củ quả, nước sông...

- Đồ gia công đơn giản: kéo, dao, kềm

- Sổ ghi chép, bút màu

IV. TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG:

1. Kiểm tra chuẩn bị của HS

2.Tiến hành hoạt động:

* GV giới thiệu chuyên đề

Hoạt động 1 : Tìm kiếm thông tin

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

  • GV giao nhiệm vụ:
    Hs làm việc nhóm với sách giáo khoa, máy tính:
    Tìm kiếm các nội dung liên quan đến nguồn điện, dòng điện, pin điện hóa trong SGK Vật lí lớp 7, lớp 9....
    Tìm kiếm các thông tin trên Internet : cấu tạo, nguyên tắc hoạt động, vai trò của pin điện hóa....

-  GV: Hướng dẫn hs lập thư mục lưu lại các bài viết và hình ảnh đã tìm kiếm được hoặc ghi vào phiếu thông tin của nhóm hoặc cắt lưu lại những hình ảnh, bài viết của tạp chí, báo...

- HS tìm kiếm thông tin:
- Nhóm trưởng phân công các thành viên trong nhóm lựa chọn tìm kiếm thông tin trong sgk, trên Intenet theo các từ khóa:

Nguồn điện, dòng  điện, pin, pin điện hóa, cấu tạo pin điện hóa(các điện cực của pin, chất điện li), nguyên tắc hoạt động của pin điện hóa, vai trò của pin điện hóa trong các thiết bị điện, các phương pháp đo để xác định các thông số bằng vôn kế, các thông số của pin (hiệu điện thế, thời gian sử dụng...)

- Mỗi thành viên trong nhóm tìm kiếm theo sự phân công, ghi chép lại vào giấy A4.

Hoạt động 2: Xử lí thông tin

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

-  GV Kiểm tra: các phiếu thu thập thông tin, các tư liệu học sinh tìm được
- Hướng dẫn hs xây dựng sơ đồ tư duy.

- GV mời đại diện nhóm lên trình bày, các nhóm khác nhận xét

- GV chốt lại các kiến thức trọng tâm để chế tạo pin điện hóa

- Mỗi thành viên trong nhóm trình bày kết quả tìm kiếm theo các từ khóa được phân công.

- Nhóm trưởng điều hành thảo luận để lựa chọn các thông tin có ý nghĩa về pin điện hóa.
- Cả nhóm thống nhất xây dựng các thông tin tìm được theo sơ đồ tư duy.

- Cử 1 thành viên lên trình bày

Hoạt động 3 : Xây dựng phương án chế tạo pin điện hóa

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

- GV yêu cầu mỗi nhóm xây dựng 2 phương án chế tạo pin điện hóa

- Mỗi thành viên đưa ra ít nhất một ý tưởng thiết kế trên giấy A4 bao gồm:

+Dung dịch chất điện li và bình đựng

+Loại điện cực

+Cách chế tạo và bố trí

+Cách đấu dây để lấy điện ra...

- Hội ý cả nhóm để xây dựng các tiêu chí: về vật liệu, hình thức, cách thức chế tạo..

- Chọn 2 phương án để chế tạo

Hoạt động 4: Thiết kế, chế tạo sản phẩm và thực hiện các phương án đo để đánh giá  kết quả của pin điện hóa đã chế tạo

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

-GV yêu cầu HS thiết kế, chế tạo pin điện hóa  đã xây dựng.

-GV yêu cầu HS thảo luận sự phụ thuộc điện áp vào các yếu tố: cặp điện cực; khoảng cách; chất điện li; nồng độ dung dịch; diện tích các bản cực...

 

  • Thảo luận thống nhất về yêu cầu các pin được chế tạo
  • Phân công nhiệm vụ và chế tạo
  • Đo điện áp giữa hai điện cực để xác định sư hoạt động của pin
  • Thảo luận về sự phụ thuộc giá trị điện áp vào các yếu tố: loại chất điện li; bản chất của điện cực, kích thước điện cực, khoảng cách giữa các điện cực...
  • Lên kế hoạch thực hiện thí nghiệm kiểm tra các dự đoán.
  • Nhận xét về mối tương quan giữa các đại lượng khảo sát và rút ra kết luận

Hoạt động 5: Tự đánh giá về sản phẩm pin điện hóa đã chế tạo, đề ra các khả năng ứng dụng

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

  • GV yêu cầu các nhóm thảo luận về khả năng áp dụng trong thực tế
  • Thảo luận để xác định pin có khả năng tạo ra điện áp cao và đáp ứng các tiêu chí về nguyên vật liệu, cách chế tạo..
  • Thảo luận để đưa ra cách tăng điện áp (ghép nối tiếp các pin, điện cực to ra..)

 

  • Thảo luận đưa ra cách sử dụng pin điện hóa: thắp sáng trong gia đình; làm chạy các máy điện nhỏ; chế tạo đồ chơi có điện áp thấp; thay thế các loại pin trong các đồ dùng điện áp thấp: radio, đồ chơi; thắp sáng đèn LED nổi trên hồ nước, sông...

Hoạt động 6: Xây dựng báo cáo sản phẩm trước lớp học

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

-GV yêu cầu nội dung cần đưa vào báo cáo:

+ Sơ lược về ngyên tắc hoạt động, cấu tạo về pin điện hóa

+ Giới thiệu về pin điện hóa đã chế tạo với bảng số liệu thí nghiệm thu thập được

+ Đưa ra khuyến cáo về loại pin điện hóa có giá tị điện áp cao và khả năng chế tạo thuận lợi

+ Đưa ra các khả năng sử dụng các loại pin đã chế tạo trong thực tiễn

  • Mỗi nhóm chọn hình thức báo cáo: báo tường, bản trình bày Power point, tập san..
  • Mỗi thành viên đưa ra ý tưởng thiết kế báo cáo: nội dung, cấu trúc, bố cục, màu sắc...
  • Thống nhất và xây dựng báo cáo+ hoàn chỉnh
  • Phân công 2 thành viên trình bày

Hoạt động 7: Đánh giá, nhận xét, nêu cảm xúc và trao đổi về quá trình làm việc

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

  • GV yêu cầu HS tự nhận xét, nêu cảm xúc trong quá trình làm việc ,hoàn thành cá nhân mẫu 1.2
  • GV phát phiếu theo mẫu 1.3 để HS đánh giá hoạt động các thành viên còn lại trong nhóm; đánh giá hoạt động của nhóm mình.
  • Từng thành viên đưa ra đánh giá, nhận xét về hoạt động và cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của hoạt động đối với bản thân.
  • Trình bày ý kiến cá nhân để rút ra kết luận cần thiết chế tạo pin điện hóa và để ra ý tưởng phát triển mới.

3. Nhận xét của GV về hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS

- Nhận xét về hoạt động của HS

- GV gợi ý cho HS thực hiện các dự án:

+ Chế tạo sạc điện thoại bằng nước thải

+ Chế tạo dụng cụ đánh giá độ tinh khiết của nước

+ Làm hệ thống điện hoàn chỉnh để thắp sáng từ nước thải, nước sông.

C. KẾT LUẬN

Trải ngiệm sáng tạo là hình thức tổ chức còn mới mẻ trong quá trình triển khai ở các khối lớp. Nó đòi hỏi giáo viên và học sinh có sự đổi mới trong quá trình nghiên cứu, thể hiện. Nhưng tôi nghĩ nếu áp dụng hình thức này thì học sinh sẽ có rất nhiều trải nghiệm bổ ích, khắc sâu kiến thức và nhạy bén hơn khi áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

Trong quá trình triển khai chắc chắn không tránh khỏi các thiếu sót, rất mong được sự trao đổi ý kiến của đồng nghiệp để tôi có thể học hỏi nhiều hơn, chỉ dẫn học sinh hoạt động tốt hơn.Kính mong các đồng chí và các bạn đồng nghiệp trao đổi và góp ý để giúp tôi hoàn thiện hơn trong chuyên môn.

Một số hình ảnh báo cáo của các nhóm học sinh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 10
Hôm qua : 27
Tháng 07 : 557
Năm 2020 : 6.603